Thánh sử Máccô, người mà thánh sử Matthêu và Luca theo những điểm chính, cho
chúng ta biết ngày tháng chính xác: "Ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không
Men, là ngày sát tế chiên Vượt Qua, các môn đệ thưa với Đức Giêsu: "Thầy
muốn chúng con đi dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu? Chiều đến, Đức Giêsu và
Nhóm Mười Hai cùng tới" (Mc 14:12, 17). Chiều ngày thứ nhất trong tuần Bánh
Không Men, những con chiên Vượt Qua được hiến tế trong Đền Thờ, trước Lễ
Vượt Qua (Passover). Theo niên đại của các Phúc âm nhất lăm th́ đó là thứ
Năm.
Sau khi mặt trời lặn, Lễ Vượt Qua bắt đầu, và lúc đó Chúa Giêsu và các môn
đệ ăn Lễ Vượt Qua, cả những khách hành hương đến Giêrusalem. Trong đêm chuẩn
bị sang thứ Sáu, theo biên niên sử nhất lăm, Chúa Giêsu bị bắt và bị đưa ra
trước ṭa án. Sáng thứ Sáu, Ngài bị Philatô kết án tử và ngay sau đó là
"khoảng giờ thứ ba" (khoảng 9 giờ sáng), Ngài bị dẫn đến Thập giá. Chúa
Giêsu chết lúc giờ thứ chín (khoảng 3 giờ chiều). "Chiều đến, v́ hôm ấy là
ngày áp lễ, tức là hôm trước ngày Sa-bát, nên ông Giôxếp tới. Ông là người
thành Arimathê, thành viên có thế giá của hội đồng, và cũng là người vẫn
mong đợi Triều Đại của Thiên Chúa. Ông đă mạnh dạn đến gặp tổng trấn Philatô
để xin thi hài Đức Giêsu" (Mc 15:42-43). Việc an táng xảy ra trước khi mặt
trời lặn, v́ lúc đó ngày Sa-bát bắt đầu. Ngày Sa-bát là ngày Chúa Giêsu được
an táng trong mồ. Sự phục sinh xảy ra vào "ngày thứ nhất trong tuần", tức là
ngày Chúa nhật.
Khoa nghiên cứu niên đại gặp vấn đề là cuộc xử án và đóng đinh Chúa Giêsu đă
xảy ra vào ngày Lễ Vượt Qua, mà năm đó rơi vào thứ Sáu. Đúng, nhiều học giả
đă cố gắng chứng minh cuộc xử án và đóng đinh Chúa Giêsu hợp với quy luật Lễ
Vượt Qua. Nhưng dù các học giả tranh luận như vậy, vẫn có vẻ khả nghi không
biết cuộc xử án trước mặt Philatô và việc đóng đinh Chúa Giêsu có được phép
và có thể xảy ra vào ngày lễ quan trọng của người Do Thái như vậy hay không.
Vả lại, có lời b́nh luận trong Phúc âm theo thánh sử Máccô ngược lại giả
thuyết này. Ngài nói với chúng ta rằng hai ngày trước lễ Bánh Không Men, các
thượng tế (chief priests) và các kinh sư (scribes) t́m cách gài bẫy Chúa
Giêsu để bắt giết Ngài, nhưng về phương diện này họ tuyên bố: "Đừng làm vào
chính ngày lễ, kẻo dân chúng náo động" (Mc 14:2). Theo tŕnh thuật này, việc
xử tử Chúa Giêsu thực sự xảy ra vào chính ngày lễ đó.
Chúng ta hăy qua tŕnh thuật của thánh sử Gioan. Thánh sử Gioan viết dài
nhất để chứng tỏ rằng Bữa Tiệc Ly không là bữa ăn Vượt Qua. Ngược lại: Chính
quyền Do Thái dẫn Chúa Giêsu đến trước ṭa Philatô để tránh vào dinh
(praetorium), "họ không vào dinh kẻo bị nhiễm uế mà không ăn lễ Vượt Qua
được" (Ga 18:28). Do đó, Lễ Vượt Qua chỉ bắt đầu vào buổi chiều tối, và lúc
xử án th́ bữa ăn Vượt Qua chưa diễn ra; cuộc xử án và đóng đinh Chúa Giêsu
xảy ra vào ngày trước Lễ Vượt Qua, vào "ngày chuẩn bị", không phải chính
ngày lễ. Lễ Vượt Qua năm đó từ chiều tối thứ Sáu đến chiều tối thứ Bảy,
không phải từ chiều tối thứ Năm đến chiều tối thứ Sáu.
Mặt khác, kết cuộc của các sự kiện vẫn giống nhau: Chiều tối thứ Năm – Bữa
Tiệc Ly của Chúa Giêsu với các môn đệ, nhưng không là bữa ăn Vượt Qua; thứ
Sáu, trước ngày lễ, không là chính ngày lễ – cuộc xử án và đóng đinh Chúa
Giêsu; thứ Bảy – an táng trong mồ; thứ Bảy – phục sinh. Theo tŕnh tự này,
Chúa Giêsu chết lúc những con chiên Vượt Qua bị sát tế trong Đền Thờ. Chúa
Giêsu chết như một con chiên thật, chỉ được các "sát thủ" báo trước trong
Đền Thờ.
Nối kết quan trọng này về phương diện thần học, cái chết của Chúa Giêsu xảy
ra đồng thời với việc sát tế các con chiên Vượt Qua, đă khiến nhiều học giả
loại bỏ cách mô tả của thánh sử Gioan là thần học. Họ cho rằng thánh sử
Gioan đă thay đổi niên đại để tạo sự nối kết thần học này, điều được coi là
minh nhiên trong Phúc âm. Ngày nay, càng lúc càng rơ ràng rằng niên đại của
thánh sử Gioan có thể thích hợp lịch sử hơn niên đại của Phúc âm nhất lăm.
V́ như đă nói ở trên: cuộc xử án và đóng đinh Chúa Giêsu vào ngày lễ là khó
có thể hiểu. Mặt khác, Bữa Tiệc Ly của Chúa Giêsu có vẻ rất gần với truyền
thống Lễ Vượt Qua, từ chối đặc tính Lễ Vượt Qua này là khó hiểu.
Do đó đă có nhiều cố gắng để dung ḥa hai niên đại. Điều quan trọng nhất và
thực sự thu hút nỗ lực dung ḥa hai truyền thống này đă được nữ học giả
người Pháp Annie Jaubert phát triển một loạt giả thuyết được công bố từ năm
1953. Chúng ta không đi vào chi tiết của các giả thuyết này; chúng ta hăy
hạn chế vào những điểm chính.
Bà Jaubert dựa vào hai văn bản ban đầu đề nghị cách giải quyết vấn đề. Trước
tiên, bà nói đến lịch cổ có trong Sách Năm Toàn Xá (Book of Jubilees), đó là
văn bản bằng tiếng Hê-brơ có từ nửa sau của thế kỷ II trước Chúa Kitô. Lịch
này có các chu kỳ mặt trăng và dựa vào năm có 364 ngày, chia thành 4 mùa,
mỗi mùa có 3 tháng, có hai mùa có 30 ngày và một mùa có 31 ngày. Thời đó mỗi
quư có 91 ngày, chính xác là 13 tuần, và mỗi năm có chính xác 52 tuần. Theo
đó, các lễ phụng vụ rơi vào cùng ngày mỗi năm. Đối với Lễ Vượt Qua, điều này
nghĩa là ngày 15 tháng Nisan luôn luôn là thứ Tư và bữa ăn Vượt Qua được tổ
chức sau khi mặt trời lặn vào chiều tối thứ Ba. Theo Jaubert, Chúa Giêsu
mừng Lễ Vượt Qua theo lịch này, nghĩa là vào chiều tối thứ Ba, và Ngài bị
bắt trong đêm chuyển sang thứ Tư.
Jaubert so sánh cách giải quyết này với 2 vấn đề: Trước tiên, Chúa Giêsu ăn
bữa Vượt Qua thật, như truyền thống nhất lăm vẫn giữ; nhưng thánh sử Gioan
cũng đúng, theo đó chính quyền Do Thái, theo lịch của họ, không mừng Lễ Vượt
Qua cho đến sau khi xử Chúa Giêsu, và do đó Chúa Giêsu bị xử vào ngày trước
Lễ Vượt Qua thật, không phải chính ngày lễ. Cả truyền thống nhất lăm và
truyền thống Johan có vẻ đúng về cơ bản của sự khác nhau giữa hai lịch.
Sự thuận lợi thứ hai được Annie Jaubert nhấn mạnh cho thấy cùng thời điểm đó
nỗ lực giải quyết c̣n yếu kém. Bà chỉ ra rằng các niên đại truyền thống
(Phúc âm nhất lăm và Johan) phải ép toàn bộ các sự kiện thành vài giờ: nghe
nói trước khi Chúa Giêsu bị dẫn đến Philatô, vợ Philatô có một giấc mơ, Chúa
Giêsu bị giao cho Herod, rồi giao lại cho Philatô, rồi ông rửa tay thanh
minh, rồi việc kết án tử, vác thập giá và bị đóng đinh. Theo Jaubert, hoàn
tất mọi thứ trong khoảng vài giờ có vẻ khó khả thi. Cách giải quyết của bà
cung cấp một cách sắp xếp thời gian từ đêm chuẩn bị sang thứ Tư cho đến sáng
thứ Sáu Tuần Thánh (Good Friday).
Bà cũng tranh luận rằng thánh sử Máccô đưa ra một hệ quả chính xác về các sự
kiện Chúa nhật Lễ Lá (Palm Sunday), thứ Hai và thứ Ba, nhưng rồi chuyển
thẳng qua bữa ăn Vượt Qua. Theo ngày tháng truyền thống, hai ngày c̣n lại
không có ǵ được tính đến. Cuối cùng, Jaubert nhắc chúng ta rằng, nếu lư
thuyết của bà đúng th́ chính quyền Do Thái có thể đă thành công theo kế
hoạch giết Chúa Giêsu vào giờ tốt trước ngày lễ. Lúc đó Philatô tŕ hoăn
việc đóng đinh cho tới thứ Sáu, vậy là lư thuyết đúng dù có chút lưỡng lự.
Dĩ nhiên, người ta phản đối cách sửa lại niên đại của Bữa Tiệc Ly vào thứ Ba
là truyền thống lâu đời ấn định lễ vào thứ Năm, điều mà chúng ta thấy rơ
ràng được thiết lập ngay từ thế kỷ II. Bà Jaubert đáp lại bằng cách chỉ ra
văn bản thứ hai mà lư thuyết của bà dựa vào: Cái gọi là Didascalia
Apostolorum (1), một văn bản từ thế kỷ III đặt Bữa Tiệc Ly vào thứ Ba. Bà cố
gắng chứng tỏ sách này duy tŕ một truyền thống cổ, cũng có trong các văn
bản khác.
Để đáp lại, người ta phải nói rằng các dấu vết truyền thống đối với bà ám
chỉ là chưa đủ thuyết phục. Khó khăn khác là Chúa Giêsu không thể dùng lịch
theo quy luật Qumran. Chúa Giêsu lên Đền Thờ dự đại lễ. Thậm chí Ngài nói
tiên tri về sự tàn phá Đền Thờ và xác định điều này bằng hành động mạnh mẽ,
Ngài vẫn theo lịch Do Thái, đặc biệt là chứng cớ trong Phúc âm theo thánh sử
Gioan. Thật vậy, người ta có thể đồng ư với Jaubert rằng lịch năm Toàn xá
không hạn chế theo Qumran và Essenes (2). Nhưng điều này không đủ để bào
chữa cho việc áp dụng lịch đó đối với Lễ Vượt Qua của Chúa Giêsu. Như vậy
điều này có thể hiểu rằng lư thuyết Annie Jaubert – thu hút ngay từ đầu – bị
đa số các nhà chú giải bác bỏ.
Vậy chúng ta nói ǵ? Cách đánh giá tỉ mỉ có trong một cuốn sách của John P
Meier viết về Chúa Giêsu, ông giới thiệu cuốn 1 là cuốn nghiên cứu về niên
đại của cuộc đời Chúa Giêsu. Ông kết luận rằng người ta phải chọn giữa niên
đại nhất lăm và Johan. Ông tranh luận rằng, về cơ bản của mọi nguồn, các
chứng cớ đều "ủng hộ" thánh sử Gioan.
Thánh sử Gioan đúng khi ngài nói rằng lúc xét xử Chúa Giêsu trước ṭa
Philatô th́ chính quyền Do Thái chưa ăn Lễ Vượt Qua, và như vậy phải giữ
đúng nghi lễ. Thánh sử Gioan đúng khi cho rằng việc đóng đinh không xảy ra
vào ngày lễ, nhưng vào hôm trước ngày lễ. Điều này nghĩa là Chúa Giêsu chết
vào giờ mà các chiên Vượt Qua đang bị sát tế trong Đền Thờ. Sau đó các Kitô
hữu thấy điều này không trùng khớp, họ coi Chúa Giêsu là con chiên thật,
theo cách này mà họ hiểu ư nghĩa thật của nghi lễ con chiên – điều này có vẻ
theo tự nhiên.
Vấn đề vẫn c̣n: Tại sao Phúc âm nhất lăm nói về bữa ăn Vượt Qua? Điều ǵ là
cơ bản đối với truyền thống này? Không phải Meier có thể đưa ra cách trả lời
thuyết phục cho vấn đề này. Ông đă cố gắng – như nhiều nhà chú giải khác –
qua những bài phê b́nh của ông. Ông tranh luận rằng Mc 14:1a và 14:12-16 –
những đoạn duy nhất mà thánh sử Máccô nói đến Lễ Vượt Qua – được thêm vào
sau. Ông nói rằng khi nói đến Bữa Tiệc Ly không có ám chỉ nào về Lễ Vượt
Qua.
Tuy nhiên, tranh luận này là giả tạo. Nhưng Meier đúng khi chỉ ra trong cách
diễn tả về chính bữa ăn, Phúc âm nhất lăm kể lại một ít về nghi thức Lễ Vượt
Qua như thánh sử Gioan. Như vậy, với chút dè dặt nào đó, người ta có thể
đồng ư với kết luận của ông: "Toàn bộ truyền thống Johan, từ đầu tới cuối,
hoàn toàn đồng ư với truyền thống nhất lăm nguyên thủy về đặc tính phi Vượt
Qua (non-Passover character) của bữa ăn" (A Marginal Jew, i, tr. 398).
Chúng ta phải hỏi Bữa Tiệc Ly của Chúa Giêsu thực sự là ǵ. Và bằng cách nào
có được cách quy kết ban đầu khả nghi về đặc tính của Lễ Vượt Qua? Câu trả
lời của Meier rất đơn giản và có nhiều khía cạnh thuyết phục: Chúa Giêsu
biết Ngài sẽ chịu chết và biết Ngài không thể ăn Lễ Vượt Qua lần nữa. Hoàn
toàn biết rơ nên Ngài mời các môn đệ ăn Bữa Tiệc Ly theo cách thức rất đặc
biệt, không theo nghi thức Do Thái, nhưng là cách từ giă của Ngài; khi đang
ăn, Ngài trao cho họ điều mới lạ, Ngài trao ban chính Ngài là con chiên thật
và do đó Ngài thiết lập Lễ Vượt Qua của Ngài.
Trong các Phúc âm nhất lăm, lời tiên tri về cái chết và sự phục sinh của
Chúa Giêsu h́nh thành một phần của bữa ăn. Thánh sử Luca giới thiệu một cách
nghiêm trọng và bí ẩn: "Thầy những khát khao mong mỏi ăn lễ Vượt Qua này với
anh em trước khi chịu khổ h́nh. Bởi v́, Thầy nói cho anh em hay, Thầy sẽ
không bao giờ ăn lễ Vượt Qua này nữa, cho đến khi lễ này được nên trọn vẹn
trong Nước Thiên Chúa" (Lc 22:15-16). Cách nói nước đôi. Có thể Chúa Giêsu
đang ăn bữa Vượt Qua b́nh thường với các môn đệ lần cuối cùng. Nhưng cũng có
thể Ngài không c̣n ăn bữa Vượt Qua nữa, mà Ngài muốn ăn bữa Vượt Qua mới.
Có điều nổi bật từ toàn bộ truyền thống: Đặc biệt là bữa ăn chia tay này
không là Lễ Vượt Qua cũ, nhưng là Lễ Vượt Qua mới mà Chúa Giêsu đă hoàn tất.
Cho dù Ngài chia sẻ bữa ăn với Nhóm Mười Hai không là bữa Vượt Qua theo nghi
thức đạo Do Thái (Judaism), nhưng sự liên kết bên trong toàn bộ sự kiện với
cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu vẫn rơ ràng. Đó là Lễ Vượt Qua của
Chúa Giêsu. Và theo nghĩa này, Ngài vừa ăn mừng vừa không ăn mừng Lễ Vượt
Qua: Các nghi thức cũ không thể được thực hiện – khi thời giờ của họ đến,
Chúa Giêsu đă chết rồi. Nhưng Ngài đă trao ban chính Ngài, do đó Ngài thực
sự ăn mừng Lễ Vượt Qua với các môn đệ. Lễ cũ không bị băi bỏ mà vẫn đầy ư
nghĩa.
Các chứng cớ mới đây nhất đối với quan điểm về lễ cũ và lễ mới, có cách giải
thích mới về đặc tính Lễ Vượt Qua trong bữa ăn của Chúa Giêsu qua cái chết
và sự phục sinh của Ngài, được thấy trong thư thứ nhất của thánh Phaolô gởi
giáo đoàn Côrintô: "Anh em hăy loại bỏ men cũ để trở thành bột mới, v́ anh
em là bánh không men. Quả vậy, Đức Ki-tô đă chịu hiến tế làm chiên lễ Vượt
Qua của chúng ta" (1 Cr 5:7; x. Meier, A Marginal Jew, i, tr. 429f). Như
trong Mc 14:1, đây là ngày thứ nhất trong tuần lễ Bánh Không Men và ngay sau
đó là Lễ Vượt Qua, nhưng cách hiểu theo nghi thức cũ được chuyển thành cách
hiểu theo Kitô học (Christological) và hiện sinh (existential). Ngày nay
Bánh Không Men ám chỉ chính các Kitô hữu, những người được giải thoát khỏi
tội lỗi bằng cách thêm men vào. Nhưng Chiên hiến tế là Đức Kitô. Ở đây thánh
Phaolô hài ḥa với cách giới thiệu của thánh sử Gioan về các sự kiện. Đối
với ngài, sự chết và sự phục sinh của Đức Kitô trở thành Lễ Vượt Qua kéo dài
măi măi.
Về cơ bản này, người ta có thể hiểu rất sớm về Bữa Tiệc Ly của Chúa Giêsu –
kể cả không chỉ một lời tiên tri mà c̣n sự tham dự thực sự của Thập giá và
sự Phục sinh trong Thánh Thể – được coi là một Lễ Vượt Qua: như Lễ Vượt Qua
của Ngài. Và như vậy đó.
TRẦM THIÊN THU
(Chuyển ngữ từ
CatholicHerald.co.uk)
(1) Sách Giáo lư các Tông đồ là
sách chuyên khảo bằng tiếng Hy Lạp về luân lư và tín lư mà truyền thống cho
rằng do các thánh Tông đồ soạn ra. Có lẽ phần lớn do một giám mục ở Syria
viết trong thế kỷ III. Nó tạo phần đầu của Hiến chương Tông đồ, nghĩa là 8
cuốn sách đầu tiên của các Tông đồ. Sách bàn về việc chăm lo các hối nhân,
bổn phận của giáo sĩ và giáo dân, và bảo vệ đức tin chống lại lạc giáo. Cuốn
sách này thường được gọi là nỗ lực đầu tiên của Bộ giáo luật.
(2) Phái Êsêniô là các nhóm
người Do thái sống khổ hạnh trước CN, không được nêu tên trong Kinh thánh
hoặc sách Talmud (Huấn giáo Do Thái), nhưng được Philo nhắc đến (năm 20
trước CN đến năm 40 sau CN), Josephus (năm 37 trước CN, khỏang năm 100), và
Pliny Cả (năm 23-79). Danh từ này có nghĩa là "những người đạo đức". Họ
dường như bắt đầu sống khổ hạnh vào thế kỷ II trước Công nguyên, và chấm dứt
phái này vào thế kỷ II sau CN, và luôn tồn tại ở Palestine. Theo Josephus,
số người theo phái này khỏang 4.000 người vào cuối thế kỷ I. Họ là một hội
chuyên biệt, chủ yếu làm nông nghiệp. Nói chung là họ không lập gia đ́nh,
nhưng không bác bỏ giá trị hôn nhân, và tuyển người vào hội bằng cách nhận
trẻ em làm con nuôi. Họ thực hiện đời sống cộng đ̣an cách nghiêm ngặt nhất,
và cũng là hệ thống đẳng cấp cứng rắn. Ng̣ai mê tín dị đoan, họ c̣n tin Đức
Chúa (Giavê) và sự bất tử. Họ hầu như bị quên lăng trong lịch sử tôn giáo,
cho đến khi người ta phát hiện các Sách cuộn Biển Chết vào năm 1947. Hầu như
chắc chắn đây là một cộng đoàn phái Êsêniô, đă làm ra kho tàng văn chương
được t́m thấy ở Qumran, gần Biển Chết. (Từ nguyên Hy Lạp là Hosioi – thánh
nhân, tu sĩ; hoặc từ chữ Aramaic – người thinh lặng).